Hãy kể một câu chuyện em đã nghe hay đã đọc về một anh hùng, danh nhân của nước ta. - CÂU CHUYỆN TÌNH TÔI.

"Mỉm Cười Khi Người Hạnh Phúc"

Post Top Ad

Hãy kể một câu chuyện em đã nghe hay đã đọc về một anh hùng, danh nhân của nước ta.

Share This

Hãy kể một câu chuyện em đã nghe hay đã đọc về một anh hùng, danh nhân của nước ta.




Bài tham khảo: Kể chuyện về các anh hùng dân tộc.


Võ Sĩ Giáp là một trong hàng trăm liệt sĩ phi công trong cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc. Anh hy sinh ngày 8/11/1972 sau một trận không chiến. Nhưng những chi tiết về trận đánh này và sự dũng cảm của anh giúp tránh tai họa cho hàng trăm con người thì không phải ai cũng tường tận. Tại nơi anh ngã xuống, xã Thượng Trưng, huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) nay đã dựng lên một văn bia tưởng nhớ người phi công quả cảm đã quên mình vì nghĩa lớn.

Anh Võ Sĩ Giáp sinh năm 1945, là con thứ hai trong một gia đình có tám anh em ở xã Xuân Viên, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Từ khi còn ở nhà, anh đã là lao động chính. Lên cấp ba, đi học xa nhưng anh vẫn cố gắng giúp đỡ cha mẹ khi có thể. Học hết cấp ba, anh thi đỗ vào trường Đại học Sư phạm 1. Vậy là anh học trò nghèo xứ Nghệ một mình khăn gói lên đường ra thủ đô học đại học. Suốt những năm tháng sinh viên, anh không hề xin tiền gia đình mà tự làm thêm kiếm tiền ăn học. Anh còn gửi tiền về nuôi các em ở nhà. Dù vừa học vừa làm, anh vẫn là một sinh viên xuất sắc của trường.

Năm 1965, đang học năm thứ ba Đại học Sư phạm 1, anh trúng tuyển phi công. Anh từ giã mái trường lên đường nhập ngũ. Sau đó anh được đi đào tạo ở Trung Quốc và về công tác tại Trung đoàn Không quân 921.

Vào đầu những năm bảy mươi, khi cuộc kháng chiến chống Mĩ đang ở giai đoạn ác liệt nhất thì mặt trận trên không cũng hết sức căng thẳng và phức tạp. Đế quốc Mĩ liên tục mở các cuộc tấn công bằng không quân, hải quân ra miền Bắc. Nhiều cuộc đọ sức trên không đã diễn ra quyết liệt. Bộ đội không quân có nhiệm vụ đánh địch trên không để bảo vệ các mục tiêu mặt đất, ngăn chặn các cuộc công kích từ xa, bảo vệ và tạo điều kiện cho lực lượng phòng không làm nhiệm vụ.

Ngày 8/5/1972, được lệnh của Sở chỉ huy Binh chủng, Trung

đoàn 921 đã cho Biên đội 2 chiếc MIG -21 gồm phi công Phạm Phú Thái -Biên đội trưởng, chỉ huy trận đánh, phi công Võ Sĩ Giáp bay số 2 xuất kích làm nhiệm vụ thu hút hỏa lực không quân tiêm kích địch để Trung đoàn Không quân 925 đánh chặn, tiêu diệt khi chúng bay vào đánh phá Thủy điện Thác Bà. Quả nhiên, rất nhiều tiêm kích của địch đã hướng tầm quan sát về phía máy bay của anh. Biên đội 925 đã xuất kích đánh chặn và bắn rơi 2 máy bay địch, các chiếc khác chạy tán loạn không kịp thả bom. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Biên đội của anh nhanh chóng thoát li nhưng địch vẫn bám riết phía sau. Máy bay của anh bị trúng tên lửa của địch. Sở chỉ huy và Biên đội trưởng cho phép anh nhảy dù để bảo vệ tính mạng, nhưng nhìn xuống là khu vực thành phố Việt Trì, có rất nhiều nhà máy, xí nghiệp, khu dân cư đông đúc, nếu nhảy dù để máy bay rơi sẽ mất an toàn cho mặt đất, anh đã quyết định điều khiển máy bay ra khỏi khu công nghiệp Việt Trì.

Anh tiếp tục cố gắng lái chiếc máy bay bị thương về khu vực huyện Vĩnh Tường, khi máy bay hạ thấp độ cao, quan sát thấy phía dưới có trường học, học sinh đang chơi đùa, anh đã kéo cần lái, cố gắng đưa máy bay vượt ra khỏi trường học. Chiếc MIG 21 như một quả tên lửa khổng lồ vượt qua nóc trường học lao xuống mảnh ruộng ngay bên trường. Máy bay bị vỡ tung thành nhiều mảnh, anh bị thương nặng. Nhân dân địa phương đã kịp thời có mặt và cấp cứu cho anh. Khi tỉnh lại lần thứ hai, anh thều thào hỏi: "Các cháu học sinh có việc gì không?" Ngay sau đó, anh được đưa về Bệnh viện Quân đội 108 chữa, nhưng vì chấn thương quá nặng, ba ngày sau (11/5/1972) anh đã hi sinh.

Năm 2006, 34 năm sau ngày anh Võ Sĩ Giáp hi sinh, được sự nhất trí của Bộ Văn hóa Thông tin, Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Quân chủng Phòng không Không quân cùng với nhân dân xã Thượng Trưng đã xây dựng công trình Bia tưởng niệm liệt sĩ, phi công Võ Sĩ Giáp tại nơi anh đã hi sinh.





Hãy kể một câu chuyện em đã nghe hay đã đọc về một anh hùng, danh nhân của nước ta.


Trong công cuộc chống Mĩ cứu nước, Bác Hồ chúng ta thường nói: "Ra ngõ gặp anh hùng". Câu chuyện mà tôi kể cho các bạn nghe sẽ giới thiệu đầy đủ về một nhân vật anh hùng tiêu biểu cho tuổi trẻ Việt Nam.

Anh Nguyễn Viết Xuân sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phú. Năm bảy tuổi, anh đi ở cho một người bà con xa để kiếm sống. Đoạn đời đi ở ấy kéo dài tới mười năm liền.

Năm 18 tuổi, từ vùng tạm chiến, anh vượt ra vùng giải phóng xin vào bộ đội. Đó là năm 1952, anh trở thành chiến sĩ quân đội nhân dân và được bổ sung vào một trung đoàn cao xạ. Ở chiến dịch Điện Biên Phủ, đơn vị anh đã bắn rơi hàng chục chiếc máy bay của giặc Pháp. Lần đầu bắn được loại máy bay B.24 tại chỗ, anh vui sướng quá, nói với anh Nguyễn Khắc Vĩ là chỉ huy của mình: "Em tưởng bắn B.24 khó lắm, thế mà nó cũng phải rơi anh nhỉ." Người chỉ huy nói: "Dũng cảm mà bắn thì nhất định máy bay nào của địch cũng phải rơi".

Trong một trận đánh, hàng đàn máy bay giặc bổ nhào xuống trận địa. Bom rơi như sung rụng. Anh Vĩ hiên ngang đứng trên hầm pháo chỉ huy, dõng dạc hô: "Nhắm thẳng vào máy bay bổ nhào, bắn". Nhưng sau đó, anh hy sinh oanh liệt.

Hình ảnh người chỉ huy dũng cảm với tiếng hô đanh thép ấy đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng Nguyễn Viết Xuân. Noi gương, anh luôn luôn phấn đấu và được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Anh trở thành chính trị viên phó đại đội, rồi chính trị viên đại đội. Năm 1964, thiếu úy Nguyễn Viết Xuân đưa đơn vị cao xạ của mình lên đóng ở miền tây Quảng Bình để bảo vệ vùng trời biên giới của Tổ quốc.

Ngày 18 tháng 11 năm 1964, giặc cho máy bay xâm phạm vùng trời miền Bắc ở phía tây Quảng Bình, hết đợt này đến đợt khác. Trên các khẩu pháo, các chiến sĩ dũng cảm bắn tỉa máy bay địch. Tiếng Nguyễn Viết Xuân hô vang:

Nhằm thắng quân thù mà bắn!

Hai máy bay phản lực F.100 tan xác.

Lần thứ tư, máy bay dịch lại tới, anh vội chạy về sở chỉ huy để truyền lệnh chiến đấu. Ba chiếc F.100 lao tới liên tiếp nhả đạn. Không may, anh bị đạn bắn trúng đùi. Anh ngã nhào trong hầm, một chân giập nát. Chiến sĩ Tình nhìn thấy định báo tin cho đồng đội, anh Xuân nghiến răng chịu đau, ra hiệu im lặng. Rồi anh dặn: "Đồng chí không được cho ai biết tôi bị thương. Đồng chí hãy giúp tôi truyền lệnh chiến đấu."

Y tá Nhu tới, thấy máu chính trị viên ra nhiều, vội lấy băng, nhưng anh gạt đi và nói: "Đi băng cho anh em bị thương khác đã..." Và anh yêu cầu cắt chân để khỏi bị vướng. Y tá trù trừ, anh giục: "Cứ cắt đi... và giấu chân vào chỗ kín hộ tôi…"

Chân cắt xong, Nguyễn Viết Xuân bảo đưa khăn để anh ngậm. Người y tá quá thương cảm, vùng đứng dậy thét vang:

Tất cả các đồng chỉ bắn mạnh lên, trả thù cho chính trị viên.

Các khẩu pháo nhất loạt rung lên, tạo thành lưới lửa quất vỡ mặt kẻ thù khi chúng vừa lao tới. Khói lửa mịt mù. Một chiếc F.100 nữa đâm đầu xuống núi kéo theo vệt lửa dài. Cả bọn hoảng hốt cút thẳng về hướng đông.

Khi bầu trời trở lại quang đãng, mọi người ùa tới bên người chiến sĩ, nhưng anh đã hi sinh.

Khẩu lệnh của người anh hùng liệt sĩ Nguyễn Viết Xuân "Nhắm thẳng quân thù mà bắn!" đã trở thành bất diệt. Khẩu lệnh tấn công ấy đã luôn luôn làm bạt vía, kinh hồn lũ giặc lái máy bay Mỹ khi chúng xâm phạm bầu trời miền Bắc của Tổ quốc mến yêu.





Hãy kể một câu chuyện em đã nghe hay đã đọc về một anh hùng, danh nhân của nước ta.


Chặt đứt một cánh tay đã gây nát, ôm bộc phá gông lên đánh tan lô cốt, mở đường cho đơn vị xung phong diệt gọn đồn dịch, đó chính là anh hùng La Văn Cầu.

Anh La Văn Cầu, người dân tộc Tày, sinh năm 1932 tại xã Quang Thành, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

Anh sinh ra và lớn lên trong một gia đình vốn có mối thù sâu sắc với đế quốc phong kiến. Khi còn bé, anh chứng kiến cái chết uất ức của cha, hậu quả của những trận đòn tra tấn đánh đập dã man, kiệt sức rồi qua đời. Cuộc đời lam lũ khổ cực như đè nặng lên đôi vai bé nhỏ của anh từ thuở thiếu thời.

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, với khát khao được cầm súng giết giặc trả thù và giải phóng đất nước, anh La Văn Cầu mới 16 tuổi đã khai tăng lên 18 tuổi để được vào bộ đội. Lúc đó là năm 1948, thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp vô cùng gian khổ, thiếu thốn. Nhưng niềm vui và ý chí đã giúp anh vượt qua mọi khó khăn vươn lên rèn luyện thành một chiến sĩ gương mẫu, giàu lòng nhân ái, nên được anh em đồng đội quý mến.

Trong hoàn cảnh phải tự lực cánh sinh, đương đầu với những thử thách chông gai trên chiến trường rừng núi Bắc Bộ, anh tỏ rõ bản lĩnh, phẩm chất của người lính Cụ Hồ, kiên quyết vượt qua mọi khó khăn, chấp hành nghiêm mệnh lệnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Anh tham gia chiến đấu 29 trận trong các cương vị chiến sĩ và chỉ huy.

Trong trận phục kích ở Bông Lau năm 1949, anh xung phong vào tổ xung kích đột phá trận đánh. Khi nổ súng, có lệnh xung phong, anh dũng cảm xông lên, phát hiện một tên Pháp ngồi trên xe tăng và hạ gục hắn bằng một phát đạn, rồi lao lên cướp súng. Ngoảnh lại sau, thấy ba tên Pháp chạy tới, anh liên dùng khẩu súng vừa cướp được bắn chết cả ba tên. Quyết không để cho bọn giặc chạy thoát, anh nhảy xuống xe, tiếp tục truy lùng và diệt thêm sáu tên nữa.

Trong Chiến dịch Biên giới năm 1950, quân ta đánh đồn Đông Khê lần thứ nhất, anh bị đau chân vẫn kiên quyết xin đi chiến đấu. Trận đánh gặp khó khăn, đơn vị bạn bị thương vong nhiều. Anh động viên anh em trong tiểu đội (hầu hết là tân binh), băng bó và cõng hết thương binh về nơi an toàn. Trên đường rút về căn cứ, địch nhảy dù phản kích, mặc dù chân đau và đuối sức, anh vẫn vác khẩu 12 ly 7 thu được của địch về tới đơn vị.

Trận công đồn Đông Khê lần thứ hai (1950) anh được phân công chỉ huy tổ bộc phá làm nhiệm vụ phá hàng rào và đánh lô cốt đầu cầu (cửa mở trận đánh). Phá được hai hàng rào thì hai đồng chỉ xung kích bị thương. Địch tập trung hỏa lực dữ dội vào cửa mở, phá hủy mất của ta một số bộc phá ống. Anh nghĩ ngay phải dành bộc phá đánh lô cốt, nên động viên anh em trong tổ gỡ mìn của địch và dũng Cảm xông lên dùng mìn phá nốt hai hàng rào cuối cùng. Song tình huống diễn ra phức tạp hơn. Khi tiến hành đánh lô cốt thì anh em đã bị thương tất cả, chỉ còn lại một mình anh Cầu. Không ngần ngại, anh ôm bộc phá xông tới lô cốt đầu cầu quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ "đột phá khẩu" của tổ. Nhưng khi vượt rào đến được giao thông hào thứ ba thì anh bị thương, ngất đi. Tỉnh dậy, thấy cánh tay phải của mình bị bắn gãy nát, nghĩ đến trọng trách chưa hoàn thành, anh quay trở lại khẩn thiết yêu cầu đồng đội chặt đứt cánh tay cho khỏi vướng víu, rồi tiếp tục ôm bộc phá xông lên đánh tan lô cốt đầu cầu, mở đường cho đơn vị xung phong diệt gọn đồn địch, kết thúc trận Đông Khê.

Tấm gương sáng của anh La Văn Cầu đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào thi đua giết giặc lập công trong toàn đại đoàn và trở thành lá cờ đầu trong phong trào thi đua sử dụng bộc phá công đồn.

Anh La Văn Cầu được tặng thưởng huân chương Quân công hạng ba. Trong Đại hội Liên hoan Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất (1952), anh được Chính phủ và Bác Hồ tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhất.

Ngày 15 tháng 5 năm 1952, anh được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đại tá La Văn Cầu đã nghỉ hưu, trở về với đời thường, nhưng phẩm chất của người anh hùng mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ trẻ Việt Nam noi theo.





Hãy kể một câu chuyện em đã nghe hay đã đọc về một anh hùng, danh nhân của nước ta.


Truyện kể về các danh nhân nước ta.

Ai đã từng được thưởng thức những bức tranh thêu tay của làng thêu XQ, chắc hẳn đều phải trầm trồ khen ngợi bàn tay khéo léo của các bà, các cô, các chị. Tranh XQ không những nổi tiếng trong nước mà còn có giá trị trên thị trường quốc tế .

Ngồi ngắm những bức tranh với nhiều phong cảnh khác nhau, tôi chợt nhớ đến một danh nhân đã truyền nghề thêu này cho nhân dân ta thời triều Lê và được mọi người tôn ông làm, ông tổ nghề thêu.

Chuyện kể rằng hồi còn nhỏ, cậu bé Trần Quốc Khái vốn rất ham học. Cậu học: cả khi đốn củi, lúc kéo vó tôm. Tối đến, nhà không có đèn, cậu bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng lấy ảnh sáng đọc sách. Khái học đến đâu thuộc đến đấy và nổi tiếng hay chữ một vùng.

Năm 18 tuổi, Khái bị lí dịch trong làng bắt đi phu đắp đê sông Hồng. Vì sức yếu không vào nổi những hòn đất to nên bị phạt, phải chôn chân ở mặt đê từ sáng đến trưa. Giữa lúc đó, viên quan coi đê đi qua, thấy Khái mặt mũi khôi ngô, lấy làm lạ, dừng chân hỏi:

-Mày bị tội gì mà phải chôn chân?

Khái lễ phép thưa:

-Tôi là học trò, không vác nổi những hòn đá to nên bị phạt.

Viên quan cũng có chút chữ nghĩa, liên cười nói:

Mày là học trò à? Ta ra cho một về đối. Đối được thì ta tha cho

Khái gật đầu xin vâng.

Viên quan liền đọc: "Ông quan thị, cắm đường cái tiêu, trị hồng thủy, cho dân được cậy." Vế ra khá oái oăm, có tên bốn thứ quả: quả thị, quả chuối tiêu, quả hồng, quả cậy. Khải ứng khẩu đối lại: "Trai Quýt Động, thi đỗ bảng nhân, phù quân vương, phí chi mới cam." Về đối lại cũng đủ bốn thứ quả: quả quýt, quả nhân, quả bồ quân, quả cam.

Viên quan nghe xong gật đầu khen ngợi, cho Khái về. Từ đấy, Khái càng nổi tiếng hay chữ. Chẳng bao lâu gặp kì thì, Trần Quốc Khái lều chõng đi thì và đỗ tiến sĩ. Thế là cậu bé đốn củi, kéo vỏ tôm ở đất thôn quê do ham học đã trở thành một vị tiến sĩ, làm quan to trong triều đình nhà Lê.

Năm ấy, ông được triều đình cử đi sứ nhà Minh bên Trung Quốc. Để thử tài sứ bộ, bọn quan nhà Minh không dẫn ông đi đường chính mà lại dẫn theo đường tắt. Đến một vùng rừng núi và thung lũng thì hết lương ăn. Ông bèn cho chặt tre, đan thành những cái đậm, cái nhủi rồi sai quân lính xuống suối kiếm cá và lên rừng kiếm trái cây. Nhờ vậy, đoàn sứ bộ của ta qua quãng đường rừng, vẫn khỏe mạnh như thường.

Sau khi Trần Quốc Khái hoàn thành công việc ngoại giao, vua Mình muốn thử tài trí của sứ thần Đại Việt một lần nữa, sai dựng một cái lầu cao chót vót rỗi mời ông lên chơi.

Ông lên lâu, thì ở dưới đất quân Minh cất thang đi, không còn lối xuống nữa, ông đành ở lại trên lầu một mình. Đưa mắt nhìn quanh, thấy hai pho tượng sơn son thiếp vàng, một chứa nước, với hai cái lọng cắm trước bàn thờ. Ngoài cửa, treo một bức trướng thêu nối ba chữ "Phật tại tâm", nghĩa là Phật ở trong lòng. Trong góc còn có hai cây tre tươi và một con dao. Một ngày rồi hai ngày trôi qua, bụng đói mà cơm không có ăn, chỉ có chum nước. Ông nghĩ bụng có nước uống tất phải có cái ăn. Quay ra ngoài ngắm bức trưởng, ông lẩm nhẩm đọc: "Phật tại tâm", rồi ông gật đầu mỉm cười, bẻ tay pho tượng ra nếm thử. Thì ra hai pho tượng ấy nặn bằng bột chè lam. Từ đó ngày hai bữa, ông cứ ung dung bẻ dần tượng Phật mà ăn.

Ngồi không buồn quá, ông bèn chẻ tre, vót nan, quan sát kỹ cách làm lọng và nhớ nhập tâm các chi tiết. Khi đã biết cách làm lọng rồi, ông lại hạ bức trướng xuống, thảo các đường chỉ kim tuyến xem cách thêu, lại dùng chỉ đó thêu vào. Lúc hoàn tất, ông ngắm nghĩa, rất vui thấy nét chữ thêu giống hệt như cũ.

Ăn hết hai pho tượng và uống hết chum nước, ông tìm cách xuống. Buổi chiều ngồi ngắm trời mây, thấy những con dơi xòe cánh chao đi chao lại như chiếc lá, ông nghĩ đến hai cái lọng cắm trên lầu, rồi mạnh dạn ôm lọng nhảy xuống đất một cách bình an vô sự. Thật chẳng khác gì ngày nay người phi công nhảy dù.

Trước tài trí ứng xử linh hoạt của sứ thần Đại Việt, triều đình nhà Minh vô cùng kính phục, bày tiệc lớn tiễn đưa đoàn sứ bộ ta. Về nước, ông được phong tước rất to, thăng Công bộ thượng thư thái bảo, được đổi họ Lê, nên mới có một tên khác nữa là Lê Công Hành.

Những năm cuối đời, Lê Công Hành làm quan trong triều nhưng thường về quê truyền dạy cho dân nghề thêu và nghề làm lọng ở làng Quýt Động quê ông, cũng như các làng lân cận... Dần dần nghề thêu theo những người thợ vùng Thường Tín (Hà Tây) lan rộng ra khắp nơi. Để ghi nhớ công ơn ông, nhân dân trong vùng đã lập đền thờ và tôn ông là ông tổ nghề thêu.





Hãy kể một câu chuyện em đã nghe hay đã đọc về một anh hùng, danh nhân của nước ta.


Câu chuyện mà tôi kể cho các bạn nghe nói về một danh nhân văn hóa nổi tiếng nước ta thế kỉ XIX đời nhà Nguyễn. Đó là Nguyễn Văn Siêu. Ông là người tài cao học rộng, chỉ vì chữ xấu mà đi thi hương cũng như thi hội đều bị đánh trượt xuống. Do đó, ông đã quyết chí khổ công luyện chữ cho kì được. Kết quả, ông nổi tiếng về chữ đẹp cũng như nổi tiếng về tài văn chương.

Ở thế kỉ trước, có một đôi bạn học rất nổi tiếng, một người tên là Nguyễn Văn Siêu học giỏi lạ thường, được người đời gọi là Thần Siêu, người nữa tên là Cao Bá Quát, được tôn làm Thánh Quát, sức học ông này cũng tài như Thánh. '

Thần Siêu nổi tiếng là thần đồng ngay từ nhỏ. Những người hay chữ thời ấy thường muốn được tận mắt nhìn thấy đôi câu đối chữ Hán rất khó mà mới mười hai tuổi, cậu đã nghĩ được và dân ở nơi cậu ngồi học. Đại ý:

Đạo học xưa nay không dưỡng tốt
Nhà tranh vẫn xuất hiện người tài

Suy nghĩ khác thường như thế, cậu miệt mài học tập và trở thành một người hiểu biết rất rộng.

Nhưng đến năm cậu đi thi, các vị quan khảo thích thú phát hiện được một Bài tham khảo rất xuất sắc. Thí sinh ấy xứng đáng đỗ đầu hàng cử nhân, chỉ có một điều đáng tiếc là chữ viết của anh ta quá xấu. Thế là anh ta bị đánh tuột xuống hàng thứ hai. Thí sinh ấy chẳng phải ai khác mà chính là Thần Siêu. Chữ xấu còn làm hại Thần Siêu một lần nữa. Sau khi đỗ cử nhân, ông vào kinh đô thi tiến sĩ. Cũng lại vì chữ xấu mà ông chỉ trúng tuyển ở bảng phụ. Bởi vậy mới có câu chế giễu:

Thần đâu mà chữ xấu như ma
Lọ lem cho người chẳng ngó ra!

Cái hại chữ xấu là như thế. Không phải chỉ học giỏi là được, mà chữ cần phải đẹp. Nguyễn Văn Siêu hiểu được điều đó, nên ngày đêm ông khổ công luyện chữ. Cuối cùng cũng như Thánh Quát, Thần Siêu nổi tiếng khắp xa gần cả về tài viết chữ.

Ngày nay, ai có dịp đến thăm Hồ Gươm ở thủ đô Hà Nội, vào chơi đền Ngọc Sơn giữa hồ, sẽ có dịp ngắm những hàng chữ đẹp của Thần Siêu còn lưu lại đây.



Hãy kể một câu chuyện em đã nghe hay đã đọc về một anh hùng, danh nhân của nước ta.


No comments:

Post a Comment

Post Bottom Ad

Pages